Hiển thị các bài đăng có nhãn Quê xứ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quê xứ. Hiển thị tất cả bài đăng

08/12/2025

Văn Viết Thiện: ĐÔI GUỐC "XÀ BANG"

ẢNH ĐÔI GUỐC "XÀ BANG"(*) Nhìn hình ảnh đôi guốc gỗ mức này. tôi lại nhớ về một hình ảnh tuổi thơ của tôi cách đây 70 năm. Có câu: “Còn cha gót đỏ như son Mỗi khi cha mất gót con đen sì.” Nhưng tôi còn mẹ, mẹ không để gót của anh em tôi đen sì, nên dù khó khăn cùng cực cũng cố gắng sắm cho cả hai anh tôi chỉ có một đôi. Nên tôi đổi lại hai câu trên như sau: “Còn cha giày, dép, sandal Cha đi đôi guốc xà bang hai người Xà bang gõ nhịp đường đời Ân tình của Mẹ… suốt đời con ghi! P/s: (*) xà bang là tên gọi đôi guốc gỗ mức của xứ Huế (Ảnh trên Internet) …….,.,.,,,,…………….. Đôi guốc gỗ mức nằm im trong tấm ảnh cũ mà dậy lên tiếng gõ từ bảy mươi năm trước. Ngày đó nhà nghèo đến nỗi hai anh em chỉ chung được một đôi guốc, vậy mà Mẹ vẫn xoay xở ôm cái chợ, ôm ruộng đồng để gót chân con không đen sì như câu hát người ta nói. Cha còn giày, dép, sandal… còn con – đi đôi guốc xà bang của hai người một lượt. Mỗi bước gõ xuống đường đời vừa gượng gạo vừa thương Mẹ vô cùng. Xà bang gõ khẽ mà thấm suốt tuổi thơ. Những buổi trời mưa gỗ ướt mùi bùn đất Mẹ hong bên bếp rơm như hong tuổi nhỏ khỏi những mùa cơ cực. Giờ tóc con đã bạc mà tiếng xà bang ngày cũ vẫn gõ vào lòng như lời nhắc nhẹ: Ân tình của Mẹ… suốt đời làm rưng mắt con. VVT

01/06/2025

Liêu Thái: Ở QUÊ CÓ THẤY HỒN QUÊ?

Ở quê giờ chẳng còn mấy gì để khoe với phố, ở quê không còn trái duối dại, chẳng còn trái trâm, trái mây, ngay cả cây ổi sẻ cũng đã lai giống siêu trái... Cây đa, giếng làng, bụi tre, bến nước cũng mất dấu từ lâu, mọi sinh hoạt mang hồn quê kiểng cũng dần phai nhạt... Không chừng, bạn thấy trống rỗng. Mọi thứ tưởng chừng không còn gì. Nhưng, còn đó, còn nhiều lắm! Sáng nay, trong quán cóc đầu làng, một người khách ngoài thành phố về, ghé ngang, hỏi chủ quán có làm lúa không, có cúng cơm gạo mới không, chủ quán trả lời rằng tập tục ấy ở quê đã bỏ từ lâu. Vị khách ngồi trầm ngâm một lúc, chừng như ông ấy đang tiếc nuối một điều gì... Với tôi, tôi cảm nhận được nỗi lòng của cả người hỏi và người trả lời. Người hỏi thì tiếc, hụt hẫng, còn người trả lời thật thà bởi họ quá mệt mỏi. Trong thời đại mà mọi thứ đều phì đại, con người bị cuốn vào vòng xoáy đời sống, liên tục, mải miết, loay hoay kiếm tiền, đến khi hữu sự thì chỉ có tiền là giải quyết, ngày cúng kính, giỗ chạp, cũng phải gọi bia, gọi dịch vụ nấu cho ra dáng trịnh trọng mà kỳ thực, cái "dáng trịnh trọng" ấy lại vô hồn, mệt mỏi và tốn kém. Chính vì mệt mỏi, người ta sẽ giản lược bớt được thứ nào hay thứ ấy. Ngày xưa người nhà nông trông chờ vào cơn mưa, ngọn nắng và thời tiết, mọi thứ gắn liền Thiên - Địa - Nhân, nên lòng biết ơn Trời Đất được gửi gắm, ký thác qua mâm cúng cơm mới sau mùa thu hoạch. Còn bây giờ, không lẽ cúng tạ ông Tàu đã nhập thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, cúng tạ ông thủy lợi đã đổ nước hay sao?! Thế giới vật dục đã chiếm mất những phần niềm tin còn sót lại nơi con người. Ngay cả lũy tre làng hay cây đa, giếng nước nơi ngã ba, người ta nhìn thấy ở đó một lô góc, có thể kinh doanh, có thể xem là đất vàng, còn cây tre trong vườn, mỗi năm thu hoạch không tới vài triệu đồng, giá mỗi cây tre người ta mua chừng hai chục ngàn đồng, giá măng luộc mỗi búp chưa đầy ba chục ngàn đồng, cả một vườn tre lớn có khi bán không tới hai triệu trên một năm. Thợ tre thì đã già và chết hết rồi! Người ta nghĩ rằng nếu ủi cái bụi tre đi, biến nó thành một lô đất làm nhà thì có tiền tỉ. Người ta biết làm gì để thay đổi số phận ngoài việc cắt bớt đất để bán! Bán cho con ăn học, đổi đời, bán để mua chiếc xe mà chạy, bán để có chút tiền giằng túi, bán để có chút tiền sắm chút vàng, cho con dựng vợ, gả chồng... Những lũy tre làng mất dần do cái "thấy" từ vĩ mô đến từng gia đình. Mọi thứ ở chốn quê mất dần, may sao cau có giá, làng quê giờ có những vườn cau đẹp. Nhưng cũng đừng quên rằng năm nào cau không xuất khẩu sang Trung Quốc thì người ta phải nghĩ đến chuyện chặt bỏ cây cau vì kiến và đói. Có một thứ bất cập là Việt Nam không có đầu ra cho cây tre quê, không có đầu ra cho cây cau nếu như Trung Quốc không "ăn hàng". Giả sử nền kinh tế Việt Nam chọn Mỹ hoàn toàn thì chắc chắn hai loại sản phẩm tre, cau và có thể sau này là sen sẽ nhanh chóng mất dấu. Vì tại Mỹ không có kĩ nghệ làm kẹo cau hay làm các sản phẩm từ tre, hạt sen như Trung Quốc. Một bài toán đau đầu đối với nông nghiệp mang chất quê củi, với cái "hồn quê" xứ Việt. Nói dông dài, từ chuyện này sang chuyện khác mất rồi, ý tôi muốn nói đến cái tình quê, hồn quê. Thực ra, bây giờ vẫn còn đậm đà lắm, có những thứ mà con người có làm ra cả ngàn tỉ vẫn chưa chắc có được. Bởi tiền có thể làm ra, nhưng thứ ấy không mua được bằng tiền. Gia đình tôi có cái may mắn này, tôi vẫn sống với đầy đủ nó - Tình Quê. Ở quê, khi có miếng mít, trái chanh, trái xoài, nải chuối, ký gạo mới hay lá mì, cái bánh ú, cái bánh chưng, chục trứng gà... Người thân, bà con, hàng xóm hay cho/tặng/biếu nhau. Điều ấy như một niềm vui của cả người cho và người nhận. Tôi có ông cậu, cứ mỗi lần mít chín là ông nhớ tới nhà tôi, tôi có ba người dì, ba ông dượng, cứ mỗi lần có dầu phụng mới, gạo mới, nếp mới hay cái bánh ú, bánh chưng, bánh rò... là cho gia đình tôi một ít. Và những lúc cầm các thức quà của họ cho, vợ chồng tôi hay nói vui với nhau "giờ bỏ ra vài chỉ vàng cũng không mua được mấy cái này. Thậm chí có tiền tỉ mua cũng không có". Bởi bên trong cái bánh hay thức quà là sức nặng không thể đo lường, định dạng của Tình Quê, của tình cảm người dành cho người. Sống ở quê, đương nhiên ai cũng bươn bả, bon chen để có đồng bạc mà trang trải. Thế nhưng có những thứ không bao giờ mua được bằng tiền. Như mấy cái bánh ú mồng năm của ông dượng tôi đã gói. Thay vì mua bánh ú tro chỉ tốn hai mươi lăm ngàn đồng một chục, ông mua nếp, hái lá, ngồi hí hoáy gói bánh, nấu bánh, cúng Gia Tiên xong thì mang cho con cháu mỗi đứa vài cái... Những cái bánh ấy không thể định giá bằng tiền hay bằng bất cứ thứ vật chất nào! Và chất nếp dẽo, thơm của cái bánh quê như một loại keo dán gắn tâm hồn trẻ nít vào quê hương. Thiếu nó, người ta sẽ ít có khái niệm về quê hương hay bà con, làng xóm hơn. Bởi những thứ keo dán tuổi thơ bằng Tình Quê đeo đẳng và theo con người cho đến khi ngừng thở. Không phải vô duyên vô cớ mà nhiều người già, đến khi gần qua đời lại thèm ăn một món ăn nào đó có gắn với tuổi thơ tươi đẹp và đáng nhớ của họ. Và trong hàng trăm thứ đã bị kĩ nghệ hóa, bị biến thành loại sản phẩm du lịch hay thứ gì đó mang hơi hướm thực dụng, thì chỉ có Tình Quê, Hồn Quê là không hề suy suyễn, và nó có chỗ đứng, đất sống riêng. Ps': Quà quê trưa nay, chuối mốc, gạo mới, bánh ú của dượng nấu, dì cho...

04/01/2024

 


Quảng Nam có nhiều món mắm cho dù mang nó đến bất kể vùng miền nào

không lẫn vào đâu được. Đó là nắm cá cơm than, mắm cá nục, mắm cá thính...
Tính đặc trưng của từng loại đã thành đặc sản, đến nay ai cũng biết, nếu không
nói là đã từng thưởng thức và tấm tắc khen ngon.

Ở đây xin giới thiệu một món ăn, một thời có mặt tại làng Xuân Đài (nay thuộc xã Điện Quang, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).
Một dịp đến thăm bác Văn Đức Đổng (năm 2012 đã trên 80 tuổi), người làng Xuân Đài, trong buổi trò chuyện, bác nhắc đến thân mẫu của bác về tài chế biến các món ăn dân dã và phù hợp với đồng tiền bát gạo ở nông thôn những năm 1940 – 1965. Một trong món ăn mà bác nói ngon, ngon lắm là Mắm cá chuồn bột.

Độ khoảng tháng Ba âm lịch, khi con tu hú kêu rân tu hú tu hú... đó là báo hiệu mùa cá chuồn đang rộ.
Biển cửa Đợi, Hội An nơi từ lâu nổi tiếng luôn luôn có nhiều loại cá biển mà lúc nào cũng tươi và ngon như cá ngừ, cá nục, cá thu, cá sòng, cá chuồn... Lúc nầy dù có bận bịu công việc gì, người làng Xuân Đài cũng dàn xếp, rủ nhau mướn ghe bầu đi Cửa Đại mua cả chuồn. Đặc điểm quan trọng cần lưu ý, nếu mua cá chuồn về làm mắm thì có bị ươn cũng không sao, nhưng để làm cá chuồn bột nhất định phải chọn loại cá trộng con và tươi xanh mới được.
Cá chuồn làm ruột rửa sạch, vớt ra để ráo nước, cắt bỏ đầu cá, sau đó bỏ cá vào hũ sành (không được muối vào hũ đất), muối giống như muối cá cơm than hoặc cá nục. Muối dùng là loại muối hạt to, trắng. Nếu có được muối Cà Ná mua để dành vài ba năm, nay đem ra dùng càng tốt vì loại muối cũ nầy để lâu mất dần chất đắng thường có trong muối ăn. chỉ còn vị mặn tinh khiết, muối mắm càng ngon. Lượng muối theo kinh nghiệm (ba cá một muối), cứ một lớp cá vừa vừa không dày không mỏng rải một lớp muối. Việc muối cá phải nhanh gọn để tránh ruồi bâu vào dễ sinh con dòi trong hũ mắm. Cuối cùng dùng miếng vải dày bịt kín miệng hũ lại, xong đem hũ mắm vừa muối ra nơi có nắng cả ngày phơi liên tục suốt ngày đêm khoảng bốn, năm tháng, đến cỡ tháng Chín, tháng Mười âm lịch cùng năm, xử dụng được. Có một công đoạn để có tên mắm cá chuồn bột phải làm trước khi ăn, là dùng đũa vớt hết xương cá chuồn ra, sau đó ấy đũa bản to (thường hay gọi là đũa bếp), khuấy hũ mắm làm cho toàn bộ phần thân cá chuồn tơi nát ra thành bột màu đỏ sậm, đặc sánh.
Trước đó khoảng tháng Năm tháng Sáu tới mùa thơm (dứa) trồng quanh vườn nhà chín rộ, chọn thời điểm trời tạnh ráo, chọn những quả dứa ngon, gọt sạch vỏ, cắt ra từng khoanh dày độ ba phân, xâu lại thành từng xâu, đem treo phơi nắng tốt cho khô. Đây là phụ gia để bỏ vào hũ mắm cá bột thành phẩm, làm cho mắm dịu bớt độ mặn thêm ngon ngọt, những khoanh thơm ấy
sau khi thấm thóp mắm ăn ngon đáo để.
Khi kể chuyện làm mắm cá chuôn bột. Hai mắt bác Đổng mãi chớp chớp như chực khóc. Bác nói: “Kể chuyện muối mắm tôi nhớ mẹ tôi quá quý anh ạ!”. Còn những người ngồi nghe chuyện, lại chim chíp miệng. Tôi nói chen vào: "Nghe bác Đổng diễn tả cách làm mắm cá chuộn bột, thật công phu và tỉ mỉ, ai cũng phát thèm!”. Bác Đổng kết luận, những ngày mùa đông giá lạnh, những khi không đi chợ, lúc bão lụt, đến bữa cơm, dùng giá múc mắm cá bột vào chén thêm gia vị tỏi, ớt, mắm có hương vị rất thơm. Khi ăn mỗi người tự dùng đũa quẹt từng quẹt mắm nho nhỏ cho vào chén cơm nóng hổi, mà ăn thật ngon.

Ngoài ra khi cuốn bánh tráng thịt heo, bánh xèo (đặc sản Quảng Nam), mắm
cá chuồn bột được pha chế thêm một ít nước mắm nhỉ, trở thành nước chấm ngon khỏi chê!
Nếu làm đúng cách, hợp vệ sinh mắm cá chuồn bột có thể để dành ăn quanh năm.

Hòa Văn
(2012)
-----
Ảnh: Hòa Văn và Bác Văn Đức Đổng (bìa phải)

31/12/2023

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2024


Ý

𝙻à𝚖 𝚝𝚑ơ 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚌𝚑ỉ 𝚝ỏ 𝚋à𝚢
𝚅𝚒ế𝚝 𝚟ă𝚗 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 để 𝚗𝚐à𝚢 𝚜𝚊𝚞 𝚕𝚞ậ𝚗 𝚋à𝚗
𝚃𝚛ó𝚝 𝚖𝚊𝚗𝚐 𝚋𝚊 𝚌𝚑ữ 𝚜à𝚗 𝚜à𝚗.
𝚇𝚒𝚗 𝚕à 𝚑ơ𝚒 𝚝𝚑ở 𝚗ồ𝚗𝚐 𝚗à𝚗 𝚝𝚑ươ𝚗𝚐 𝚢ê𝚞
𝚃𝚑ơ 𝚟ă𝚗 𝚝𝚑𝚊 𝚝𝚑𝚒ế𝚝 𝚖ộ𝚝 đ𝚒ề𝚞
𝙼𝚘𝚗𝚐 𝚕ò𝚗𝚐 𝙽𝚑â𝚗 𝙽𝚐𝚑ĩ𝚊 í𝚝 𝚗𝚑𝚒ề𝚞 𝚝𝚛𝚊𝚘 𝚗𝚑𝚊𝚞.

𝙷Ò𝙰 𝚅Ă𝙽
1/1/2024

 

17/11/2023

Truyện ngắn Hòa Văn: 🅲🅷🅸Ế🅲 🅻Á

 


Tặng anh Đỗ Cao Thiên


TẨN ngồi thẫn người trên sân thượng trước bông hoa mới vẽ xong, bông hoa màu đồng nội còn đẫm ướt sương mai không biết bao lâu rồi, có lẽ nửa đêm hay chậm hơn một chút. Nhưng sớm hay muộn bây giờ không quan trọng khi bông hoa tâm tưởng đã nở rồi. 

Tẩn nhớ mỗi độ tết đến xuân về, hồi tóc còn để chỏm thường lon ton chạy theo mẹ về Gò Nổi thăm ngoại. Nhiều lúc bị mẹ la cũng chỉ vì mải tần ngần đứng ngắm nhìn những bông hoa cỏ dại nhỏ xíu đủ màu sắc rực rỡ nở thắm ven đường quê, khi ấy hồn vía ở đâu đâu đến nỗi quên lửng đang đi với mẹ.

- Đi… đi… kẻo nắng tới nơi rồi! - Mẹ mắng yêu, rồi nắm tay kéo đi như chạy.

Gò Nổi đẹp và nổi tiếng là đất học có nhiều danh nhân như Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Trần Cao Vân… Biết các cụ qua lời kể trầm trầm của ông ngoại khi mới học lớp ba trường làng và cứ mỗi lần như thế Tẩn ước muốn sau này sẽ vẽ một bức tranh cỡ lớn về các loài hoa đồng nội để tặng quê hương và tặng các danh nhân. Trong đó, có một đóa hoa riêng tặng các bà mẹ sinh ra các bậc danh nhân. Thế mà từ khi thành họa sĩ ít nhiều tiếng tăm ở đất Sài Gòn, Tẩn không vẽ được một bông hoa đồng nội nào ra hồn. Có bông đẹp lộng lẫy thì giống hoa hồng, nhiều bông vẽ xấu hơn bất kể hoa nào từng thấy, nên lòng ray rứt mãi… 

Tẩn nhất quyết đóng cửa ở nhà vẽ. Tẩn nói với Ngân - bạn thân cũng là họa sĩ - sẽ không ra khỏi nhà, không gặp một ai nữa nếu không vẽ được bức tranh độc hoa đồng nội. Đêm qua Tẩn vẽ được bức độc hoa, rồi mở tung cửa nhà đón chào đất trời phơi phới vào xuân. Người đầu tiên thưởng thức bức độc hoa là Ngân khi cô mang cho Tẩn cà mèn phở, kèm theo tách cà phê.

- Tẩn ơi! Tẩn ơi! Ngân gọi và thấy hơi lạ vì mấy bữa trước có khi phải đập cửa thình thình Tẩn mới ú ớ ra mở cửa, thế mà sáng nay cửa ngõ mở toang như đêm hôm có trộm. Ngân lên thẳng tầng hai, ra sân thượng và ngẩn ngơ trước đóa hoa đồng nội đang nở rộ, Ngân bước tới định lấy tay đỡ… Tẩn hét lớn: “Đừng chạm vào, đấy là đóa hoa trong tâm tưởng, mình đã vẽ được rồi…”.


Sau đó, sân thượng nhà Tẩn trở thành nơi rất nhiều người đến thưởng lãm tranh. Ai cũng khen hoa rất đẹp nhưng có điều gì đó lòng bất an. Tẩn vẽ thêm một bông nữa, rồi thêm một bông nữa, một bông nữa… Cứ vẽ thêm như thế, không những bức tranh hoa ngày càng xấu hơn mà còn cảm thấy thêm bất an. Tẩn nằm rã rượi, chẳng nói, chẳng rằng. 

Ngày tháng trôi qua, bức tranh ngàn hoa đồng nội cũ kỹ, người thưởng lãm thưa dần rồi chẳng còn ai đoái hoài. Nếu như ngày vẽ xong đóa độc hoa đồng nội Tẩn nổi tiếng chừng nào thì bức tranh vẽ thêm ngàn hoa lại nhận chìm hồn phách Tẩn chừng ấy. Sài Gòn không nói làm gì, bởi chốn phồn hoa nổi tiếng đấy rồi lại vô danh tiểu tốt đấy! Khốn nỗi, ở quê bông hoa đồng nội được Tẩn sinh nở trên bức tranh độc hoa ấy, bà con làng xóm lúc tỏ tường cớ sự lại tỏ ra khinh miệt. Có người còn đặt câu hát “Đất có trời, Gò Nổi có Tẩn người “hỏa si”.

Mỗi ngày thức dậy trong nỗi ám ảnh hoa đồng nội, Tẩn điện về cho bạn cũ ở quê gửi vào hàng ngàn bông hoa đồng nội khác, để mỗi ngày ngắm một chiếc rồi đặt thêm một tên mới như bông chuối nước trở thành hoa lửa, bông bìm bìm  là hoa nhớ. Ngắm xong, đặt tên xong, vẽ, càng vẽ càng giống như  “quỷ sa” không hơn không kém. Ngân gợi ý: “Chẳng lẽ suốt đời Tẩn mang nỗi buồn không vẽ được hoa đồng nội mãi hay sao?”. “Dễ đúng như vậy”. “Hoa cũng như người, ai bội bạc quên nghĩa quên tình, cả đời dù có làm gì, ở đâu, sống như chết!”.

“Hay là Ngân cùng về quê nội, quê ngoại của mình một lần, thăm lại nơi một thời tóc để chỏm, đi học trường làng, có những đứa bạn hiền như đất, chỉ biết rong chơi với cỏ hoa đồng nội. À, có một loại bông cỏ gà, tụi mình hễ bắt gặp được thì mừng vô kể, xúm nhau hái, sau đó cùng chơi trò chọi gà”. Tẩn kể một mạch, Ngân ngồi chon hỏn nghe chẳng hiểu gì, bởi quê Ngân ở miệt sông nước Nam Bộ nên làm gì có loại bông cỏ Tẩn nói đâu. Tẩn như hiểu ra, cười cười: “Không hiểu phải không, ví dụ này…”. Hai tay cầm hai cây cọ vẽ còn nhèm nhèm phẩm màu Tẩn giải thích rằng cây cỏ gà trổ trên đầu chồi non một chùm lá như thế này… Mỗi đứa một bông cỏ quất mạnh vào nhau, bông cỏ đứa nào đứt lìa cọng cỏ là thua. Ngân ậm ừ: “Mà bao giờ đi?”. “Đi ngay thôi!”.

Bây giờ trở lại Sài Gòn, Tẩn còn nhớ mãi lời tâm sự từ những người bạn cũ thân thiết sống ở quê, theo đó bức tranh ngàn hoa đồng nội của Tẩn nên vẽ thêm những chiếc lá vàng ở phần nền cuối của bức tranh. Không có sự sống nào không tàn lụi theo thời gian, song hồn của sự sống nếu được đặt đúng chỗ sẽ sống dậy và sống mãi…

Đứng trước bức tranh tay cầm cây cọ, tay bưng đĩa màu còn lại sền sệt, đăm chiêu suy nghĩ, hình như có ai đó nắm lấy tay Tẩn nâng lên… Tẩn vẽ những chiếc lá vàng. Bức tranh bỗng sáng rực rỡ. Hay tin Tẩn từ quê trở lại thành phố bạn bè tới thăm và ngạc nhiên trước bức tranh cũ bây giờ tươi tắn, hồi sinh. Bức tranh ấy có tên Chiếc lá.

HÒA VĂN 

13/10/2023

LÊ THÍ: ĐÔNG VỀ... NHỚ MẮM THÍNH



     Quê tôi ở phía “nguồn”, xa biển cả mấy chục cây số. Ngày trước đường giao thông, phương tiện đi lại hạn chế. Ngày thường để có được con cá tươi, cá hấp của biển còn khó huống gì ngày đông mưa gió sụt sùi. Vì thế các móm “mắm” như mắm cái, mắm dưa, mắm thính… đã trở thành thực phẩm “chủ lực”, “chính vị”. 

     Xa quê đã mấy chục năm, ngày nay nguồn thực phẩm dồi dào, thịt thà, cá tôm ê hề, nhưng mỗi lần đông về, trời trở lạnh lại nhớ món mắm thính ngày xưa của mẹ!

    Mắm thính là món cá được muối với bột thính. Thính là loại bột gạo hoặc bắp (chủ yếu là bắp) được rang chín cho thơm và giả vụn. Công thức nghe thật đơn giản nhưng muốn có món mắm ngon luôn cần có tay nghề lẫn bí quyết!.


Làm mắm thính

        Nguyên liệu để làm mắm thính là các loại cá gần bờ và chủ yếu là các loại rẻ tiền như cá nục, cá de, cá trích, cá chuồn…Nhiều người vẫn bảo có món mắm thính cá thu, cá ngừ …rất ngon nhưng thực tình quê tôi là vùng “chó ăn đá, gà ăn muối”, cả tuổi thơ của tôi chưa bao giờ được thấy lát cá thu, nói gì đến việc đem loại cá cao cấp này… làm mắm!

    Thường vào khoảng tháng 6, 7 là vụ cá nam, cá nhiều và rẻ, lại gần đến mùa mưa lụt, mẹ tôi thường mua cá về để làm mắm. Trước hết bà làm sạch ruột cá, lấy mang, chặt bớt đuôi, vây cho gọn. Dùng nước muối nấu sôi để nguội rửa sơ qua cá cho sạch rồi để trên rổ cho thật ráo. Xong sắp cá thành từng lớp trong vại sành, cứ một lớp cá lại rắt một lớp muối. Vừa làm bà vừa dạy cho chị tôi, cứ 3 cá, một muối. Ít muối quá cá sẽ mềm, nhiều muối cá sẽ quá mặn. Khi vại đã đầy bà cho một chiếc vĩ bằng tre đậy lên trên và chèm cho thật chặt để muối dễ thấm đều vào cá, xong đậy lại thật kín.

        Khoảng mười ngày sau, cá đã thấm muối, chín và cứng, bắt đầu dậy mùi. Bà cho vớt cá ra khỏi lu, lấy tay ép nhẹ từng con cá để gọi là cho bớt mặn và cho con cá được cứng.

     Quê tôi thính được làm bằng hạt bắp. Mẹ tôi vẫn bảo nếu có gạo hoặc nếp càng tốt nhưng cao cấp qúa. Bắp được rang với lửa củi, lửa không được cháy lớn để cho bắp được chín đều và không bị nổ. Khi bắp chín vàng và có mùi thơm là được. Để bắp nguội đem giã nát nhưng không được mịn quá. 

     Công đoạn cuối cùng là trộn cá với bột thính. Bột thính sẽ bám thành lớp dày quanh con cá. Sau đó đem cá thính xếp thành lớp vào trong lu hoặc hủ chèn thật chặt, lấy lá chuối hơ lửa và mo cau bịt kín miệng hủ rồi đem dang nắng vài tháng là đã có mắm thính để ăn. Trong mấy lu mắm thính mẹ tôi luôn đánh dấu một lu đặc biệt, lu nầy thể hiện bí quyết làm mắm của bà. Đó là việc đổ thêm trong lu một lượng nước mắm có pha nước đường bát đã “thắng” vừa độ tới. Bà thường bảo, loại đặc biệt ni mà ăn vào ngày mưa lũ, giá rét thì … đau gạo, đau cơm lắm! Thế mới biết ngày đó quê tôi nghèo đến mức nào! Thêm có tý nước mắm tí đường là đã trở thành “đặc biệt”, “cao cấp”!.


Ăn mắm thính

Cách ăn mắm thính cũng đơn giản như cách làm nhưng lại món cực kì khoái khẩu.

Ngày đông tháng giá, “bạn biển” (chữ dùng của mẹ tôi) không lên được, hoặc không đi chợ được thì mắm thính trở nên … đắc dụng. Chỉ việc gắp vài con mắm bỏ vào tô đem chưng vào nồi cơm đang cạn. Khi cơm chín thì mắm cũng chín và có thể ăn ngay. Cầu kì hơn (đối với quê nghèo) trước khi chưng vào nồi cơm bỏ thêm vào tô mắm ít tiêu, ớt bột và vị tinh (mì chính), sang hơn thì thêm ít tép mở.

    Mắm thính cũng có thể đem kho, đem nướng lá chuối trên than hồng. Mắm thính kho sẽ làm cho mắm béo (nhờ dầu phụng) và ngọt hơn nhờ đường và vị tinh. Lấy lá chuối gói con mắm lại rồi nướng trên lửa than sẽ có món mắm thính thơm và giòn hơn. Mắm thính quê tôi còn được ăn với rau luộc (lang, muống, cải…).

      Quê nghèo của tôi, món mắm thính chỉ đến mức đó! Thế nhưng những ngày mưa gió, rét mướt bên bếp lửa, bới chén cơm nóng hổi từ trong nồi còn đang vần tro nóng, gắp miếng mắm thính trộn đều, và vào miệng chưa kịp nhai đã muốn nuốt… vì ngon quá, cái ngon mà ngôn ngữ không diễn tả được và sau này khi lớn lên có dip được ăn  nhiều món ngon vật lạ vẫn không tìm được lại cảm giác thăng hoa đó!

       Sau này ra Huế học tôi mới được thưởng  thức món mắm thính cao cấp hơn của dân “quý tộc” ở … kinh đô. Người ta đem mắm thính kho với thịt ba rọi thêm chút mắm ruốc và các loại gia vị “cầu kì” của Huế. Có khi người ta chế biến món mắm thính hấp trứng . Mắm thính lóc hết thịt, bỏ xương, sau đó băm nhuyễn rồi trộn với vài cái trứng vịt đánh đều, thêm ít thịt heo nạc băm nhỏ, dầu và gia vị, sau đó đem hấp chừng 15 phút cho chín. Những món này thường ăn với rau sống gồm khế, chuối chát (có khi thay bằng trái vả), rau thơm. .. Nhưng hình như đối với tôi nó vẫn không có được cái “mặn mà” của mắm thính quê nhà!

                                                                ***

           Biết em ưa móm mắm thính nên mỗi dịp tôi từ Sài Gòn về thăm quê vào mùa đông, lần nào chị tôi ở quê cũng chuẩn bị sẵn mấy đĩa mắm thính để chiêu đãi. Và mỗi lần như vậy chị đều bảo với các con: món đặc biệt dành cho cậu! Nhìn đĩa mắm thính, nhìn dáng chị gầy gò, quê mùa đang tất bật, tôi lại thương chị, nhớ mẹ, nhớ một thời tuổi thơ gian khó, nước mắt cứ… chực trào!.


Lê Thi

29/09/2023

Bùi Giáng: Kỷ niệm 25 năm ngày mất




Lên mù sương xuống mù sương

Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu

Tuổi thơ em có buồn nhiều

Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua

Biển dâu sực tỉnh giang hà

Còn sơ nguyên mộng sau tà áo bay.

Bùi Giáng

-----

Ảnh chân dung, thủ bút Bùi Giáng

14/09/2023

Vũ Duy Văn: TRIỀN SÔNG QUÊ



Ngày về thăm lại triền sông

Miên man gió thổi cánh đồng heo may

“Mẹ già như chuối chín cây”

Câu ca dao cũ lắt lay phận người

Cả đời vất vả ngược xuôi

Mẹ chừ ở chốn xa vời nghìn thu

Vành nôi đưa, vọng lời ru

Lạc trong ký ức, hoang vu cõi lòng

Con về ra đứng triền sông

Xót xa cải đã trổ ngồng mẹ ơi!

Hoa vàng xao xác chân trời

Gió đông khắc khoải, bời bời bến mê

Cải vàng níu giữ hồn quê

Xin đừng đánh mất, khiến tê tái lòng

Sông xưa chừ đã thay dòng

Bến xưa đã lở, trĩu lòng người đi

Ai còn nặng gánh sân si

Giữa lo toan, kiếm tìm chi nợ đời

Thương sao tình mẹ cao vời

Cù lao chín chữ, biển trời mênh mông...

Chiều nay về lại triền sông

Lặng nghe gió rít... Người không thấy về


Đà Nẵng, tháng Bảy-2021

Vũ Duy Văn

07/09/2023

LÝ ĐỢI: HAI ĐÁM TANG CỦA HAI NGƯỜI XỨ QUẢNG Ở SÀI GÒN

 Trong lịch sử và ký ức của Sài Gòn hơn 100 năm qua, thì dân xứ Quảng đã có khá nhiều đám tang để lại tình cảm sâu đậm của người dân nơi đây. Như sách Tấn Thơ Lưu Nghị truyện viết: “Đại trượng phu cái quan sự phương định”, (tạm dịch: Kẻ đại trượng phu đến lúc đậy nắp hòm sự nghiệp mới định vị được). Hoặc nói giản dị như dân gian: nhìn không khí đám tang là biết người chết đã sống cuộc đời như thế nào.






Đám tang Nhất Linh. Ảnh: Mạnh Đan


Đưa tang Phan Châu Trinh. Ảnh: Khánh Ký

Trong rất nhiều đám tang của dân Quảng ở Sài Gòn thế kỷ 20, xin được nhắc lại đám tang của hai đại trượng phu: Phan Châu Trinh và Nhất Linh. Dù chỉ qua sử liệu ngắn gọn và vài hình ảnh, vẫn có thể hình dung được phần nào về khí phách, về cách thế sống của hai kẻ sĩ này.

Người mở con đường Duy Tân

Ngày 24/3/1926, chí sĩ Phan Châu Trinh đột ngột qua đời tại Sài Gòn, khi mới 54 tuổi, đang ở độ chín muồi của một nhà tư tưởng. Sáng đó Huỳnh Thúc Kháng ghé thăm, kể lại: “Khi đến Sài Gòn, bệnh Tây Hồ đã trầm trọng, không ngồi dậy được, chỉ ngó nhau cười, nhưng nhân khi nói chuyện mà có lời vĩnh quyết: “Hai ta được thấy nhau trên trần gian này một khoảng ngắn ngủi cũng đủ rồi, can trường bình sinh đã soi dọi nhau, không cần bàn nhiều”. Đêm đó Tây Hồ qua đời!”.

Linh cữu Phan Châu Trinh được quàn tại khách sạn Bá Huê Lầu, số 54 đường Pellerin (nay là đường Pasteur). Ban tang lễ gồm 15 người, của nhiều địa phương, do Bùi Quang Chiêu làm chủ tịch, để tổ chức “quốc tang”, dù bị chính quyền ngăn trở.

Giờ nhìn lại ban tang lễ này, đa số đã là đại trượng phu, nhiều người có tên đường trước và sau 1975 như Nguyễn Văn Thinh, Lê Quang Liêm, Trương Văn Bền, Trần Huy Liệu, Bùi Quang Chiêu… Có những số liệu khác nhau về lượng người đưa tiễn.

Theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là “có tới 30.000 người”; theo nhà văn Nguyễn Thị Minh thì “hơn 6 vạn người”; theo nhà văn Nguyên Ngọc và nhiều người khác, thì “khoảng 100.000 người”… Chỉ cần lưu ý là dân số cả Sài Gòn và Chợ Lớn năm 1926 là 345.000 người.

Hàng trăm kẻ sĩ trong cả nước - không ít người khác quan điểm, khuynh hướng chính trị - đã đưa tiễn trực tiếp hoặc gián tiếp. Tiền phúng điếu lên đến hơn 10.000 đồng, tương đương 20 tỷ đồng ngày nay.

Ngày 4/4/1926, đám tang được tổ chức trọng thể, do Đảng Thanh niên, Đảng Lập hiến… điều hành. Có 4 bài điếu văn của Hội Tương tế Gò Công, của Huỳnh Thúc Kháng, của Bùi Quang Chiêu, của đại diện công nhân Ba Son… được đọc trước khi hạ huyệt.

Trong lời đưa tiễn của ban tang lễ, có đoạn: “Thưởng công phạt tội là quyền của quốc dân ta, lại có cái nghĩa vụ phải thi hành quyền ấy. Những kẻ bán nước cầu vinh thì chúng ta đã phạt bằng bút, bằng lưỡi, đối với kẻ có tội đã như vậy, đối với người có công ta há chẳng nên biểu dương và sùng bái hay sao.

Cụ Phan Châu Trinh mà không được hưởng cái lễ long trọng này thì những người như cụ sống đây ai còn thiết gì đến chúng ta nữa. Một dân tộc nào mà không biết tôn kính người ái quốc là dân tộc ấy không có lòng ái quốc… Chánh phủ chẳng hề ra lịnh cấm dân ta ái quốc, miễn là chúng ta hành động có trật tự”.

Trong bài “Nguyễn An Ninh - Tôi chỉ làm cơn gió thổi”, Nguyễn Thị Minh viết: “Ngày đi chôn, dân chúng sắp hàng dài đi dọc đường Pellerin, qua Norodom, quẹo Paull Planchy đến Phú Nhuận rồi thẳng lên Tân Sơn Nhất.

Hàng chục ngàn người nghiêm trang, tay đeo băng tang xếp hàng đi, có thanh niên của Đảng Jeune Annam giữ gìn trật tự suốt dọc đường. Một đám tang lớn chưa từng có ở Sài Gòn, đám tang thể hiện sự giác ngộ của quần chúng, đám tang là tấm lòng của đồng bào đối với nhà ái quốc suốt đời chỉ nghĩ đến dân”.

Đám tang đi theo lộ trình từ 54 Pallerin (nay là đường Pasteur, quận 1), qua đại lộ Norodom (nay là đường Lê Duẩn, quận 1), đến đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng, quận 3), xuống đường Phan Đình Phùng (quận Phú Nhuận), an táng tại nghĩa trang của Hội Tương tế Gò Công, gần sân bay Tân Sơn Nhất, nay thuộc quận Tân Bình, TP.HCM.

Thơm danh liệt sĩ Tường Tam

Ngày 7/7/1963, nhà văn Nhất Linh uống độc dược quyên sinh tại Sài Gòn để phản đối nhà cầm quyền Ngô Đình Diệm đàn áp đối lập chính trị và bách hại Phật giáo Việt Nam. Ông cũng ra đi ở tuổi 57, khi sự nghiệp đang tỏ rạng và sung sức.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương viếng câu đối: “Người quay tơ, đôi bạn, tối tăm, anh phải sống chứ sao đoạn tuyệt/ Đời mưa gió, lạnh lùng, bướm trắng, buổi chiều vàng đâu chỉ nắng thu”. Trừ bốn chữ “chứ sao, đâu chỉ”, các cụm từ còn lại là tên các tác phẩm của Nhất Linh.

Theo dự kiến thì ngày 8/7/1963, Nhất Linh phải ra hầu phiên tòa xét xử những nhà bất đồng chính kiến. Tại phiên tòa này, gần 30 bị cáo - trừ Phan Quang Đán - đã chia nhau mảnh vải đen xé từ một chiếc áo, họ đeo lên cánh tay trái để tang Nhất Linh. Kết thúc phiên tòa, mỗi người bị kết án 5 năm tù, đày ra Côn Đảo. Chính vì vậy mà đám tang Nhất Linh diễn ra thật đơn giản, trang nghiêm, cảnh sát và mật vụ còn đông hơn dân thường.

Nhưng sau khi tang lễ khởi hành từ Bệnh viện Grall (nay là Bệnh viện Nhi đồng 2, quận 1), người đưa tang mỗi lúc một đông, chủ yếu là văn nghệ sĩ, trí thức, sinh viên, học sinh... Hàng trăm báo đài trong nước và quốc tế đưa tin, tất cả đối trướng đều được chụp hình, ghi chép, biên dịch.

Khi đến chùa Xá Lợi (quận 3), thì dân chúng đông áp đảo cảnh sát và mật vụ, gần 200 tăng ni tham dự lễ cầu siêu. Sau đó đưa đi an táng tại nghĩa trang Giác Minh (quận Gò Vấp); đến năm 1975 thì hốt cốt hỏa thiêu, gửi bình tro vào chùa Kim Cương (quận 3). Đến năm 2001, gia đình di dời hài cốt Phạm Thị Nguyên (vợ Nhất Linh) từ Pháp và Nhất Linh từ Sài Gòn về an táng tại nghĩa trang quê nhà ở Hội An.

Theo giới thạo tin tại Sài Gòn, dù người đưa tang bị bố ráp trực tiếp, nhưng kết quả thì đám đông và dư luận đã chiến thắng. Xét về mức độ, thì phải đến năm 2001, đám tang của Trịnh Công Sơn mới có thể đông tương đương như vậy.

Sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát ngày 2/11/1963, Sài Gòn đã tổ chức lễ truy điệu Nhất Linh rất trọng thể tại sân Tao Đàn. Trong văn tế Nhất Linh đề ngày 5/1/1964, thi sĩ Vũ Hoàng Chương kết: “Hỡi ơi!/ Tố Đoạn tuyệt thành hồ đoạn tịch, mộng dẫu chơi vơi nửa cuộc, sử còn thơm danh liệt sĩ Tường Tam/ Phượng Nhất Linh hề thiên nhất phương, lâu tuy ngơ ngác bên sông, gió vẫn nổi tiếng văn hào họ Nguyễn”.

Từ lễ truy điệu Nhất Linh, đồng hương Quảng - Đà đã nghĩ đến việc lập nghĩa trang riêng tại Sài Gòn cho chủ động các việc nghĩa. Năm 1966, Hội Trung Việt ái hữu, chủ yếu là đồng hương Quảng - Đà, đã mua đất lập nên nghĩa trang Gò Dưa (17ha) ở xã Tam Bình, quận Thủ Đức. Sau đó các đồng hương Quảng - Đà khác cũng góp sức đáng kể trong việc hình thành tự phát nghĩa trang Bình Hưng Hòa từ đầu thập niên 1970, về sau có gần 100.000 ngôi mộ.

Trong những người con xứ Quảng chôn ở Gò Dưa thì có đôi bạn Bùi Giáng và Tạ Ký, họ nằm cách nhau chừng 10 mét. Cách đó chỉ một đoạn ngắn, chừng 100m đường chim bay, là mộ Trịnh Công Sơn, người đã cùng đoàn xe tang đưa Bùi Giáng đến táng ở đây.

LÝ ĐỢI

14/06/2023

Hữu Dũng: NHỚ MÍT TRỘN QUÊ NHÀ

      


     Mấy hôm nay trời oi bức, ngồi lai rai cùng mấy ông bạn già ở gốc mít nhà anh Bè nghe tu hú lảnh lót vọng về khiến lòng tôi nhung nhớ đến thèm thuồn món mít trộn quê nhà.

     Hồi đó, vườn nhà thường trồng ba giống mít: Mit ướt, mít nghệ và mít ráo. Trong đó mít ráo được người làng yêu chuộng hơn cả. Bởi công năng của nó ngoài việc cho gỗ để làm hàng mộc, quả mít ráo được chế biến nhiều món ăn. Nhớ lại những năm thời hoa lửa, ruộng đồng bị bom cày đạn xới, người làng thiếu đói, nhiều gia đình nhờ mít để ấm lòng. Vả lại, thổ nhưỡng ở quê tội phù hợp với giống cây này. Đến thời kỳ cho quả, có cây có đến trên trăm trái. Chúng mọc thành chùm, lúc ngúc khác nào như đàn lợn con vây quanh bầu vú mẹ.


      Mít chín múi vàng ươm, bọng nước thơm lừng. Từ quả mít được đôi bàn tay khéo léo của các chị, các mẹ chế biến nhiều món ăn ngon miệng. Chẳng hạn, qủa mít già bóc xơ đem hông ăn vừa bùi vừa ngòn ngọt. Hột mít luộc chín vừa bùi vừa béo. Mít non dùng để nấu canh, đặc biệt kho với cá chuồn muối sươi. Ở đây mình nói thực lòng nghe: Món dân dã này thì cơm mấy cũng không vừa, khó món ăn nào sánh kịp. Vì vây mà nó được đi vào thi ca đối với người dân xứ Quảng. “Ai về nhắn với bạn nguồn/ Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên”.

     Trong các món ăn chế biến từ quả mít thì người làng khoái khẩu hơn cả vẫn là mít trộn. Nguyên liệu để làm món ăn dân dã này cũng thật giản đơn. Trước hết chọn quả mít non không bi sâu bệnh mập mạp, thịt chắc; rồi dùng dao gọt bỏ lớp vỏ xanh bên ngoài, bỏ cùi bên trong, cắt thành từng miếng bằng nắm tay người lớn. Sau đó đem luộc. Khi mít vừa chín tới, thì vớt ra rổ để nguội, rồi dùng dao xắt nhỏ. Phía bếp đặt chảo khử dầu mà phải là dầu phụng chính hiệu Điện Thắng mới đúng đô. Dầu vừa chín thì nhắc chảo khỏi bếp để nguội, tiếp đến thả mít vào chảo trộn đều cùng thịt heo ba chỉ, muối, bột ngọt, đường, tiêu, chanh, ớt. Nên nhớ món mít trộn mà thiếu rau răm, rau húng và đậu phụng rang thì hương vị của nó xem như mất đi một nửa. Đâu vào đấy dùng muỗng xúc ra đĩa. Để tô điểm đĩa mít trộn thêm phần đẹp mắt, hấp dẫn các mẹ, các chị dùng ớt đỏ cắt tỉa hình cánh hoa bày lên trên.
     Ăn mít trộn là phải ăn nhứ thế này mới ngon: tuyệt đối không gắp bằng đủa, bằng thìa mà phải dùng tay xúc bằng bánh tráng nuớng, nhưng là bánh tráng Phú Chiêm, Điện Phương mới hợp gu. Thưởng thức mít trộn nên ăn từ từ, thong thả mới cảm nhận hết hương vị độc đáo của nó, bùi bùi, beo béo của mít non. Chua chua, cay cay ngòn ngọt của đường, của ớt, của chanh. Giòn dai của bánh tráng, đậu phụng, thịt heo ba chỉ. Mùi thơm dịu ngọt của húng, răm ... nếu có thêm chén đế phụ họa thì càng hấp dẫn, ăn hoài không biết ớn. Do vậy mà món ẩm thực này người làng dủng để thết đãi bằng hữu, người thân đi xa về thăm quê hay các thành viên gia đình đoàn tụ.

     Sau ngày giải phóng, hướng ứng chủ trương xóa vườn tạp, phát triển mô hình kinh tế vườn để thoát nghèo, cho nên vườn nhà ở quê tôi thay dần các loại cây truyền thống. Họ nhà mít cũng chịu chung số phận lần lượt suy tàn. Thay vào đó giống cây mới có tiềm năng kinh tế. Theo đó món mít trộn thưa dần trong mỗi gia đình
     Bản thân tôi cũng có thời ngược xuôi được may mắn thưởng thức nhiều món ăn đặc sản các miền, nhưng đâu cũng không bằng mịt trộn quê nghèo. Đến bây giờ cứ mỗi độ giêng hai, nghe tiếng tu hú, thấy cá chuồn xanh ngời từ biển Địện Dương về khu phố chợ làng là lòng tôi mường tượng hương vị mít trộn như đang lẫn quẫn đâu đây, khiến nỗi thèm thuồng trong tôi trổi dậy và dạt dào niềm cảm xúc lâng lâng khó tả.

H.D

13/04/2022

Hòa Văn: PHẠM PHÚ THỨ - NGƯỜI CHẾ TÁC XE ĐẠP NƯỚC XE TRÂU Ở LÀNG ĐÔNG BÀN XƯA





Như nhiều làng quê xưa ở Điện Bàn (Quảng Nam) đất đai tiếng là màu mỡ nhưng dân làng Đông Bàn quanh năm cơ hàn do chỉ sản xuất lúa gieo, trồng khoai trồng sắn... tất cả được mất trông ở trời. Gặp năm hạn hán mùa màng thất bát, năm thuận cỏ dại mọc nhiều hơn lúa nên công chăm sóc nhổ cỏ rất cực nhọc, năng suất trúng lắm cũng chỉ đạt trên 10 ang một sào.

Tình cảnh ấy kéo dài cho đến khi cụ Phạm Phú Thứ - Tiến sĩ, người con của làng, đưa mô hình xe gió ở Ai Cập về quê làm thành xe đạp nước, phục vụ cấy lúa nước, cuộc sống dân làng mới khấm khá.

Đó là vào tháng 6 năm 1863, nhân chuyến đi Pháp và Tây Ban Nha theo dụ vua Tự Đức nhằm điều đình chuộc lại 3 tỉnh ở Nam Kỳ. Hành trình dài gần một năm từ 21. 6. 1863 đến 28. 3. 1864, cụ Phạm Phú Thứ đã học kỹ thuật làm xe "đạp nước" của dân bản xứ ở Ai Cập và khi về nước truyền lại cho dân làng Đông Bàn.

Xe đạp nước được chế tác từ các vật liệu sẵn có tại địa phương. Một bánh vành bằng tre đường kính 10- 12 mét, các thanh tre kết nối quanh một trục ngang gỗ lim hoặc gỗ trầm thị, trên vành tre lắp đặt ống tre một đầu kín cách đều nhau nghiêng theo một chiều 20 độ, các ống tre nầy dùng để múc nước từ dưới ao (hồ), đìa đưa lên mương máng. Hệ thống xe đạp nước đặt cố định trên bờ ao, đìa làm sao cho vành tre quay theo trục ngang khi có lực đạp đều lên thanh tre ngang trên vành, một xe đạp nước và một ao, đìa nước chiếm diện tích khoảng 1 sào đất, thường đặt ở trung tâm cánh đồng để tiện cho việc tưới nước. Trung bình một hồ xe cung cấp đủ nước tưới cho 2 mẫu (1 ha) ruộng.

Sau khi có xe đạp nước hơn 100 mẫu ruộng làng Đông Bàn xưa trở thành đồng lúa nước, năng suất tuy chưa cao (khoảng 25 ang/ sào), nhưng hồi đó đã là tiến bộ đáng kể. Để tính thời gian phiên nước bà con nông dân dùng trục chỉ quấnồìa trục ống tre cắm cố định nối với trục của xe đạp nước. Một chỉ nước (tức là hết 1 trục chỉ) bằng 120 vòng quay (khoảng 1 giờ) thì nước đủ tưới khoảng 1 sào lúa với mực nước ở ruộng trên dưới 1 tấc.
Sau này dân làng Đông Bàn cải tiến xe đạp nước thành xe trâu. Xe trâu xử dụng các thiết bị như xe đạp nước, có thêm 2 bánh xe răng cũng làm bằng gỗ mít ròng đường kính 0,5 mét và một trục gỗ lim (hoặc gỗ trầm thị) dài 7- 8 mét, đường kính 0,25 mét. Hệ thống nầy cài vào cổ trâu (ách trâu) khi trâu đi vòng quanh trên một thửa đất bên đìa (ao); lực kéo của trâu làm cho vành bánh xe nước quay, đưa nước từ đìa lên mương máng tưới ruộng. Năng suất xe trâu nhanh gấp 3 lần đạp nước. Một xe trâu tưới đủ nước cho hơn 5 mẫu ruộng. Cho đến năm 1965, ở làng Đông Bàn có 17 xe trâu và 5 xe đạp nước với đầy đủ hệ thống mương nội đồng.
Từ xe đạp nước, xe trâu ở làng Đông Bàn, về sau nhiều nơi trong ngoài tỉnh Quảng Nam làm theo và trở thành công cụ thuỷ lợi phổ biến phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Ngày nay, trên cánh đồng làng Đông Bàn xưa (thôn Nam Hà 1, Nam Hà 2, Tân Bình 3, Tân Bình 4, xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam) còn di tích nhiều ao (hồ), đìa, mang tên của chủ các xe đạp nước, xe trâu như Đìa xe trâu (còn gọi là hồ xe) các ông Hương Hẳn, Thủ Cầm, Thủ Thị, Xã Thành, Hương Triệu, Trùm Cũ, Tư Quán, Cửu Chương, Cửu Thám...
Nhắc lại một công cụ hữu ích: xe đạp nước, xe trâu một thời gắn bó với bà con nông dân, càng nhớ về cụ Phạm Phú Thứ- người con của quê hương Điện Bàn, Quảng Nam với tư tưởng canh tân đất nước nổi tiếng.
Hình ảnh xe đạp nước, xe trâu nếu được tôn tạo đặt ở một vị trí gần khuôn viên lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ (ở thôn Nam Hà 1, xã Điện Trung) chắc sẽ góp phần ý vị cho du khách đến đây trước thắp nén hương kính tưởng nhớ cụ, sau thưởng lãm công cụ thuỷ lợi nổi tiếng một thời.

Hòa Văn

 

    

Hòa Văn: PHẠM PHÚ THỨ SÁNG CHẾ XE ĐẠP NƯỚC, XE TRÂU Ở LÀNG ĐÔNG BÀN


Như nhiều làng quê xưa ở Điện Bàn (Quảng Nam) đất đai tiếng là màu mỡ nhưng dân làng Đông Bàn quanh năm cơ hàn do chỉ sản xuất lúa gieo, trồng khoai trồng sắn... tất cả được mất trông ở trời. Gặp năm hạn hán mùa màng thất bát, năm thuận cỏ dại mọc nhiều hơn lúa nên công chăm sóc nhổ cỏ rất cực nhọc, năng suất trúng lắm cũng chỉ đạt trên 10 ang một sào.

Tình cảnh ấy kéo dài cho đến khi cụ Phạm Phú Thứ - Tiến sĩ, người con của làng, đưa mô hình xe gió ở Ai Cập về quê làm thành xe đạp nước, phục vụ cấy lúa nước, cuộc sống dân làng mới khấm khá.

Đó là vào tháng 6 năm 1863, nhân chuyến đi Pháp và Tây Ban Nha theo dụ vua Tự Đức nhằm điều đình chuộc lại 3 tỉnh ở Nam Kỳ. Hành trình dài gần một năm từ 21. 6. 1863 đến 28. 3. 1864, cụ Phạm Phú Thứ đã học kỹ thuật làm xe "đạp nước" của dân bản xứ ở Ai Cập và khi về nước truyền lại cho dân làng Đông Bàn.

Xe đạp nước được chế tác từ các vật liệu sẵn có tại địa phương. Một bánh vành bằng tre đường kính 10- 12 mét, các thanh tre kết nối quanh một trục ngang gỗ lim hoặc gỗ trầm thị, trên vành tre lắp đặt ống tre một đầu kín cách đều nhau nghiêng theo một chiều 20 độ, các ống tre nầy dùng để múc nước từ dưới ao (hồ), đìa đưa lên mương máng. Hệ thống xe đạp nước đặt cố định trên bờ ao, đìa làm sao cho vành tre quay theo trục ngang khi có lực đạp đều lên thanh tre ngang trên vành, một xe đạp nước và một ao, đìa nước chiếm diện tích khoảng 1 sào đất, thường đặt ở trung tâm cánh đồng để tiện cho việc tưới nước. Trung bình một hồ xe cung cấp đủ nước tưới cho 2 mẫu (1 ha) ruộng.


Sau khi có xe đạp nước hơn 100 mẫu ruộng làng Đông Bàn xưa trở thành đồng lúa nước, năng suất tuy chưa cao (khoảng 25 ang/ sào), nhưng hồi đó đã là tiến bộ đáng kể. Để tính thời gian phiên nước bà con nông dân dùng trục chỉ quấnồìa trục ống tre cắm cố định nối với trục của xe đạp nước. Một chỉ nước (tức là hết 1 trục chỉ) bằng 120 vòng quay (khoảng 1 giờ) thì nước đủ tưới khoảng 1 sào lúa với mực nước ở ruộng trên dưới 1 tấc.
Sau này dân làng Đông Bàn cải tiến xe đạp nước thành xe trâu. Xe trâu xử dụng các thiết bị như xe đạp nước, có thêm 2 bánh xe răng cũng làm bằng gỗ mít ròng đường kính 0,5 mét và một trục gỗ lim (hoặc gỗ trầm thị) dài 7- 8 mét, đường kính 0,25 mét. Hệ thống nầy cài vào cổ trâu (ách trâu) khi trâu đi vòng quanh trên một thửa đất bên đìa (ao); lực kéo của trâu làm cho vành bánh xe nước quay, đưa nước từ đìa lên mương máng tưới ruộng. Năng suất xe trâu nhanh gấp 3 lần đạp nước. Một xe trâu tưới đủ nước cho hơn 5 mẫu ruộng. Cho đến năm 1965, ở làng Đông Bàn có 17 xe trâu và 5 xe đạp nước với đầy đủ hệ thống mương nội đồng.
Từ xe đạp nước, xe trâu ở làng Đông Bàn, về sau nhiều nơi trong ngoài tỉnh Quảng Nam làm theo và trở thành công cụ thuỷ lợi phổ biến phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Ngày nay, trên cánh đồng làng Đông Bàn xưa (thôn Nam Hà 1, Nam Hà 2, Tân Bình 3, Tân Bình 4, xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam) còn di tích nhiều ao (hồ), đìa, mang tên của chủ các xe đạp nước, xe trâu như Đìa xe trâu (còn gọi là hồ xe) các ông Hương Hẳn, Thủ Cầm, Thủ Thị, Xã Thành, Hương Triệu, Trùm Cũ, Tư Quán, Cửu Chương, Cửu Thám...
Nhắc lại một công cụ hữu ích: xe đạp nước, xe trâu một thời gắn bó với bà con nông dân, càng nhớ về cụ Phạm Phú Thứ- người con của quê hương Điện Bàn, Quảng Nam với tư tưởng canh tân đất nước nổi tiếng.
Hình ảnh xe đạp nước, xe trâu nếu được tôn tạo đặt ở một vị trí gần khuôn viên lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ (ở thôn Nam Hà 1, xã Điện Trung) chắc sẽ góp phần ý vị cho du khách đến đây trước thắp nén hương kính tưởng nhớ cụ, sau thưởng lãm công cụ thuỷ lợi nổi tiếng một thời.

Hòa Văn

 

    

02/11/2020

Hòa Văn: RỪNG... RƯNG RƯNG

      Truyện ngắn


    HỒI mới hòa bình về lại quê, Tri có một thời cùng anh em thanh niên trong xã đi nông trường Quyết Thắng trồng chè nên gọi Tri chè, để phân biệt với Tri ở cuối xóm – tới giờ trên năm lăm tuổi rồi mọi người vẫn gọi thế. 

      Lâu quá tôi mới có dịp ghé lại nhà thăm và rủ nhau đi lên đồi núi chơi. Ông Tin cha của Tri chè, người trông hơi mệt nhưng vui lắm vì trước đây khi chưa đi Sài Gòn, tôi thân với gia đình và cùng Tri đi trầm. Ông Tin tuổi đã trên tám mươi, da dẻ hồng hào, người cứng cáp sắc thái đĩnh đạc. Tôi khen “Tri ở vậy nuôi ông già, chắc ghê!” Hình như câu lỡ lời của tôi chạm vào nỗi niềm thầm kín của ông, khi đứa con trai độc nhất ở tuổi “tri thiên mệnh” rồi mà chẳng chịu lập gia đình, khiến ông Tin buồn thiu quay mặt vào vách tường khúc khắc ho. 

Tôi đánh trống lảng: “Như Tri mà được, chứ kiểu thằng Vương có vợ bằng không!” Ông Tin nói: “Kể chi vợ con thằng nớ!”. 

Tri chè cười cười rồi giục tôi đi kẻo trễ. Nhìn những quả đồi trơ trụi, tôi bần thần như người mất hồn, không tin nỗi cớ sự đến như thế nầy!. Nơi mà chỉ cách đây hai mươi mấy năm rừng có rất nhiều loại gỗ quí hiếm, cây lá bạt ngàn, đi cả ngày không thấy vạt nắng nào rộng hơn cái nong phơi lúa. 

 Tri nói: “Mấy hôm nay trời mưa không khí dịu bớt, chứ nếu không chừ oi bức nắng rát da không chụi nỗi đâu!!”. 

 Đâu rồi tiếng chim hót véo von, tiếng nước suối róc rách chảy! Dạo ấy tôi rất thích vườn chim cu gáy ở nơi đây. Không rõ chúng tụ tập lại làm tổ từ bao giờ, mà sinh nở ra rất đông đúc. Khi chứng kiến cảnh chim mẹ đút mồi cho con ăn mới thấy hết tình “mẫu tử” của loài vật đâu kém con người?. Mỗi lần nghe tăm hơi chim mẹ vỗ cánh bay về, chim non nằm trong ổ nôn nả há mỏ to hết cỡ để chim mẹ mớm mồi. Mọi sự việc bình thản đáng yêu quá! Được cái không ai phá phách tổ hay bắt chim nhờ thế đàn chim chẳng có chút gì sợ sệt con người. Thế mà giờ… Tri kéo tôi đi…  

                                      ***

        Hương trời đất theo gió bám vào nơi trầy xướt trên thân cây dó bầu, lâu ngày biến thành trầm hương. Đó là theo tương truyền dân gian còn khoa học xác định khi cây dó bị thương tích, chất dầu trong cây tụ lại đề kháng bệnh, dần dần chuyển hóa thành trầm. Kinh nghiệm những cây dó có trầm thân cành thường xơ xác.

 Những chuyến đi tìm trầm hương kéo dài. Có một đêm đang ngủ say, tôi bổng thấy tất cả rừng bị huỷ diệt. Không như chuyện cổ tích Công chúa ngủ trong rừng, từng nghe cậu Tám kể hồi còn học lớp 4 trường làng, với bao hình ảnh tươi đẹp của quê hương, nào là có bà tiên Hiền, cô tiên Lành, trìu mến yêu thương trẻ thơ, khuyên nhủ mọi người hãy giữ gìn môi trường sinh thái tự nhiên và lúc nào cô Tiên cũng tặng cho tuổi thơ những điều ước tốt đẹp. 

 Trong cơn ác mộng tôi thấy bọn quỷ dạ xoa đang tâm đốt cả đại ngàn. Lửa ngùn ngụt bốc cháy, cháy, cháy… Muông thú chạy tán loạn… Cây cối to nhỏ quằn quại đau đớn trong lửa đỏ. Bầu trời mù mịt khói và tro bụi. Từng đàn, từng đàn chim chơi vơi bay, bay… Không biết chúng chạy và bay về đâu?. Bị mắc kẹt bịt bùng trong đám lửa khói cháy, tôi hoảng hốt, miệng ú ớ liên hồi... chân cố hết sức chạy thoát, nhưng chẳng được… cả người như đang bị một vật gì đó quá nặng đè bẹp xuống đất... 

Bỗng bà Tiên Hiền xuất hiện nắm tay tôi kéo bay vút đi lên không trung. 


                                *** 

 

        Mới đó đã qua trên hai mươi mấy năm. Giờ không chỉ là giấc mơ, mọi việc đang xảy ra rành rành... Rừng… rưng rưng. 

       Tri chè vẫn y nguyên hồi xưa, suốt một buổi tâm sự chuyện cũ chuyện mới rôm rả, mặc cho ai nói gì thì nói anh chỉ ngồi cười cười, nụ cười giống hệt nụ cười của các bà mẹ vùng trung du nầy, rất hiền và ẩn chứa mạch sống mãnh liệt của núi rừng thuở nào!. Nhiều người tỏ ý lo ngại trước sức tàn phá không nương tay của con người, núi rừng sông suối ngày một hoang tàn, môi trường bị huỷ hoại…

        Tri chè cũng chỉ cười cười nói: “Biết làm răng chừ!”./. 

        Hòa Văn

       (4/2012)

-----

Ảnh: Internet

29/10/2020

Hòa Văn: CÒN GÌ KHÔNG


Còn gì không?(*)

 Bên dưới lớp đất đá nầy bao sinh linh nghẹt thở 

Xin nguyện cầu Đấng Thiêng Liêng độ trì

 Chỉ cần một hốc đá chỉ còn hở chút là còn hơi thở 

Chỉ cần chỉ cần... than ôi! 

 

Lúc này xin đừng phí phạm lượng oxy... 

Bao sinh linh là bà con ta đang rất cần cần một chút thôi! 

Nhanh tay lên đôi bàn tay đang bới đất đá... Bên dưới những bàn tay là sự sống đang lụi dần...


 Không thể kêu cứu! 

Quanh là đất và đá! 

Sự vùi lấp kinh hoàng 

Như tia chớp

 Thảm thương thay!.

 ... 


***


Không còn gì! 

Câu trả lời 

          Lạnh lùng 

                   Hiu quạnh 

                           Bơ vơ 

Tới cái xoong nhôm còn xẹp lép 

Thử hỏi thân xác con người nào chịu nổi 

Không còn gì 

Ngoài sự lặng câm của đất và đá 

Sự im lặng đúng là quá đáng sợ 

Ở nơi núi không ra núi đồi chẳng ra đồi sự sống tính bằng giây là bình thường 

Bình thường đáng sợ 

Sức chịu đựng của con người thật vô cùng                  

             Ơi! Vô cùng 

                     Vô tận 

Chỉ có lương tâm mới cứu được sự thật kinh khủng đang diễn ra 

 Chỉ có lương tri mới cứu được sự tàn lụi của con người 

            Lương tâm 

                     Lương tri ơi!.

 🔊

Hòa Văn

29.10.2020

 Kinh hoàng! 


 ***


Không còn lời để nói 

Không còn điều gì để nói tất cả đang ở sâu trong lòng đất đá 

Xóm tan hoang 

Nhà tan hoang 

Chưa bao giờ cơn địa chấn ập xuống miền núi quê tôi khốc liệt như thế! 

Có nhà 8 người chết hết chỉ còn một là nhờ không có ở nhà! ... 

 Cả nhà chết hết! 

Tin nhói trái tim... 


... 


 Ôi! Tiếng thét giữa rừng Âm vang âm vang tứ bề 

 Ôi! Tiếng khóc giữa rừng 

Âm vang âm vang tứ hướng 

Nỗi đau tận cùng đứt ruột 

Mà làm sao giờ em ơi! 

Đôi mắt chứa bao niềm uất ức! 

Em nhìn lên khoảng trời  

Có thấy gì đâu 

 Ngoài hư không... 


 Không trống không kèn 

Không hòm không quách 

Chỉ mấy gói mì tôm bẻ đôi 

Đặt trên mộ mẹ mộ cha ngay bên nơi vừa bị đất đá vùi lấp 

Một ngày mùa đông 

Không giặc không đạn 

Ầm ầm thác lũ 

Ông bà mẹ cha anh em con cháu chết trong nháy mắt! 

 Chết không kịp ngáp Không lời thở than 

Không không ... 

Không biết tại sao phải chết 

Vì tiền? 

Vì tình?

 Vì... 

Có trời chứng tri 

Tội lỗi này ai mang 

Không biết

 Vô tri 

Vô thức 

Vô giác

 Vô lối 

Vô luân

 Vô đạo!


 Không thể chọn nơi sinh

 Con người có quyền chọn nơi ở? 

Hởi ôi! Bên bờ suối bên sườn đồi bên nương rẫy... 

Thi vị quá thi vị 

Thật thà rất thật thà 

Chỉ cần con nhái 

Chỉ cần củ sắn lùi 

Chỉ cần vốc nước lạnh 

Đủ rồi một kiếp nhân sinh 

Đã từng thấy như thế... 

Đã từng như thế! ... 

 Người ở miền núi có đôi mắt như thôi miên 

Đôi mắt muốn nói bao điều yêu thương 

 Lại là đôi mắt buồn thấu tâm can 

 Mọi thứ sẽ chìm vào quên lãng? 

Nỗi đau còn lại!.

Hòa Văn

 30.10.20

-----

(*): Thông tin ban đầu cho biết, trận mưa lớn kéo dài kèm hoàn lưu bão số 9 đã xảy ra liên tục từ 4h đến 19h hôm qua (28.10) đã gây sạt lở nhiều nơi.

 Tại thôn 6, xã Phước Lộc, Phước Sơn, Quản Nam đã xảy ra sạt núi, vùi lấp 11 người dân mất tích. Do đường bị sạt lở, chia cắt giao thông hoàn toàn, thông tin liên lạc bị gián đoạn nên sáng nay, cán bộ cơ sở mới cắt đường, vượt núi, đi bộ ra đến huyện để cấp báo. Ảnh Người dân nỗ lực tìm kiếm người mất tích. Hiện người dân tại thôn 6 đã tìm được 3 thi thể. Cán bộ xã Phước Lộc và huyện Phước Sơn đang tổ chức lực lượng tiếp cận hiện trường. Dự kiến, 16h hôm nay, lực lượng xã mới tiếp cận được vụ sạt lở. Được biết, khu vực sạt lở thôn 3, xã Phước Lộc có 32 hộ với 215 nhân khẩu. Vụ sạt lở còn khiến nhà cửa, tài sản của người dân bị hư hỏng. 

 Trước đó, 2 cán bộ xã Phước Lộc gồm Hồ Văn Sợ, 25 tuổi, cán bộ dân vận, Hồ Văn Độ, 28, phó Bí thư xã đoàn cùng 3 cán bộ khác đến các thôn kiểm tra, hỗ trợ dân sơ tán. Trên đường đi, 2 cán bộ nêu trên bị sụt đất, rơi xuống suối, bị cuốn trôi. Như vậy, riêng xã Phước Lộc hiện có đến 13 người mất tích.
 

(*):Vụ sạt lở đất ngày 28/10 xảy ra tại thôn 1 (xã Trà Leng, Trà My, Quảng Nam) vùi lấp 15 hộ dân, 33 người may mắn sống sót, 9 thi thể được tìm thấy, 13 người hiện (4/11/20) vẫn còn mất tích, trong đó có Bí thư xã Trà Leng.

(*): Thông tin từ Ban Chỉ huy PCTT và TKCN tỉnh Quảng Nam, trong đợt mưa bão số 9, tại khu vực các huyện miền núi của tỉnh có 22 người chết, 46 người bị thương và 24 người đang còn mất tích do sạt lở đất, nước cuốn trôi. Trong đó, tại thôn 1, xã Trà Leng (huyện Nam Trà My) còn 14 người và xã Phước Lộc (huyện Phước Sơn) còn tám người đang mất tích...


26/10/2020

Hòa Văn: Cái chum

      Tạp văn



      Xưa nay ở quê tôi nhà nào cũng có chum. Chum đúc bằng xi măng dùng để chứa lúa (thóc); bắp; sắn; khoai khô; đường tán... Có thể dùng chum để chứa nước. 

     Thợ đúc chum là thợ có tay nghề kinh nghiệm mới đúc nhanh và đẹp. Nhiều thợ đúc nhiều chum giống y nhau rất đẹp. Muốn đúc một cái chum thợ đúc trước đít chum xong bao ví nan tre chung quanh đổ đất vô nện chặt muốn đúc chum cao bao nhiêu thì đổ đất tới đó rồi tháo dở ví nan tre ra dùng dao gọt cho đất thành cái ruột của chum. Cuối cùng là đắp trét hồ xi măng lên quanh thành cái chum. Dùng giấy bao xi măng lót miệng chum đúc cái nắp chum. Cả tuần sau xi măng chết cứng mới đào xúc đất trong bụng chum ra. 

Chum lớn nhỏ tùy nhu cầu nhưng phải theo khuôn mẫu đít và miệng chum bằng nhau, miệng có nắp đậy gọi là nắp chum, bụng của chum phình tròn đều. Đồ khô để trong chum sẽ được giữ không bị mốc ẩm. 

      Cái chum sắp hàng ở nhà ngang hoặc chái hai bên nhà, nhà sản xuất nông nghiệp nhiều diện tích đúc nhiều chum... Mùa nắng ráo thì không gì khi lũ lụt chum bị nước làm nổi lên gặp sóng gió sẽ nghiêng làm đổ đồ trong chum ra nước ướt trôi mất bởi vậy khi nước lụt đến mức nổi chum thì nhận chum xuống nước cho nước vô đầy chum. 

      Hồi lũ lụt Giáp Thìn 1964 ba tôi về nhà mắc lụt đã xử lý các chum không cho chum nghiêng đổ bằng cách múc lưng bớt chum lúa... chuẩn bị sẵn mỗi chum một đàn dây dừa và một đoạn cây dài hơn đường kính của miệng chum đoạn cây này gọi là cây can, cột một đầu dây dừa vô giữa cây can còn đầu dây móc lên rường nhà khi nước lớn chum nổi là kéo dần nâng chum lên. 

       Nhờ làm vậy toàn bộ đồ trong chum ở nhà không bị đổ ướt hư hỏng. 

      Hòa Văn


 

18/10/2020

Trương Đức Tới: VỚI MƯA

 


Thơ

 Gửi N.Th 

 Bỗng nghe mưa gọi quê nhà 

Đèo mây quán gió ngày xa chưa về 

Lòng buồn như tỉnh cơn mê 

Một mình tôi giữa bộn bề hư không 


 Bao năm rồi hỡi dòng sông Những mùa nước nổi trên đồng ruộng sâu 

Đám bèo xanh bỏ bờ ao 

Biết đi đâu biết về đâu bây giờ 


 Lụt tràn ký ức tuổi thơ 

Ngập con đường ngập giấc mơ viễn hành 

Loài chim di trú bay nhanh 

Chỉ kịp gửi một âm thanh khứ hồi 

 


Quê nhà vẫn nhớ thương tôi 

Xin đừng để ướt mắt người năm xưa 

Tôi còn đây những cơn mưa 

Rớt về bến cũ 

Đò đưa 

Cát lầm. 

Trương Đức Tới

 (Một bài viết trong mùa lũ 1999.

 Ảnh: Phan Tân Lâm)

http://langdongban.blogtiengviet.net/?p=6294460&more=1&c=1&tb=1&pb=1#more6294460

13/10/2020

Tiểu Nguyệt: CHUYỆN NGÀY XƯA CỦA MẸ TÔI

           Truyện ngắn 

        Chiếc xe mười hai chỗ của anh Hai tôi đang chạy vào con đường bê tông phẳng phiu dẫn vào làng, hai bên là ruộng lúa xanh mượt. Làng tôi hiện ra xanh xanh bóng tre, mái nhà ẩn hiện mờ nhạt dưới bóng cây phía trước. 
Tiếng cười nói vui vẻ của mấy anh em tôi khi biết chuyến đi sắp đến nơi, ai cũng cảm thấy thoải mái, nhẹ nhỏm dù vừa vượt qua một quãng đường dài hơn 400 cây số để được trở về ngôi làng thân yêu - nơi cha mẹ tôi đã từng sinh ra và lớn lên. Trong lòng tôi sôi nổi bao cảm xúc trào dâng, buồn vui lẩn lộn. Ngang qua thửa ruộng ven đường, tình cờ nhìn thấy một phụ nữ đang cúi khom người cấy dặm, đã làm tôi giật mình. Tôi đưa bàn tay lên ngực nén trái tim đang đập mạnh và hít thở thật đều để ngăn bớt sự xúc động, hồi hộp. Hình ảnh mẹ tôi thuở nào chợt hiện ra, như thấp thoáng đâu đây. Tôi luôn gặp mẹ trong những giấc mơ; những cử chỉ, lời nói dịu dàng nhắc nhở, hay bàn tay âu yếm vỗ về tôi những khi tôi gặp chuyện không vui, những khi tôi vấp ngã, đã hằn in trong tâm trí tuổi thơ tôi như được khắc sâu tự bao giờ. Một thời, nhạc phẩm “Bông Hồng Cài Áo” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã làm tôi xao xuyến rưng rưng mỗi khi nhớ về mẹ - mẹ như dòng suối diệu hiền êm ái chảy qua lòng tôi, cho tôi sự tươi mát hạnh phúc; có khi người là ánh đuốc soi đường thắp sáng trong những nẻo đường gai gốc tôi đi. Hình dáng mẹ trong tôi tuy gầy gò, nhỏ nhắn; nhưng có đôi tay vững chải, đã che chở, sưởi ấm, dẫn dắt năm anh chị em tôi đều đến được bến bờ an vui dù một thân trải qua bao khó khăn, vất vả. Những năm tháng, dù lẩn quẩn trong cảnh túng thiếu, mẹ vẫn luôn nhắc kể về chuyến thăm quê như một niềm vui lớn, một hạnh phúc hiếm hoi của đời bà. 
Mỗi lần về quê, mẹ luôn dắt theo một trong năm anh chị em tôi một người, thay phiên nhau, ai cũng được lần lượt theo bà về quê cả. Bà nói, để cho chúng tôi có dịp biết quê mình, nhớ quê mình, bà con xóm giềng - nơi đã chôn nhau cắt rún và nuôi dưỡng tuổi thơ của chúng tôi . Từ dạo đó, khi không còn mẹ nữa, anh chị em tôi luôn nhớ lời tâm tình tha thiết của mẹ, và năm nào sắp đến tết, anh chị em tôi luôn cùng nhau trở về thăm lại làng xưa; dù nơi ấy bây giờ đã đổi thay, vắng dần người thân yêu cũ. Trước mắt tôi, kia là gốc đa già đầu làng mà tôi và mẹ đã ngồi nghỉ trong chuyến mẹ con tôi về thăm khi tôi tám tuổi. Chân tôi đau rát khi đi bộ trên con đường đất (bây giờ đã bê tông hóa) dài năm cây số giữa trưa nắng chang chang. Mẹ tôi vỗ về “Con ráng chút nữa là đến nhà” như truyền cho tôi sức mạnh để tôi bước tiếp. Gốc Đa còn sừng sững đấy mà mẹ tôi đâu rồi? Tôi nghĩ, mẹ tôi chắc vẫn đâu đây, người đang dõi theo bước chân chúng tôi với niềm vui, với tình yêu thương vô bờ. Tôi nhớ, nhớ vô cùng đêm trăng năm nào, trên vuông sân gạch, chúng tôi quây quần bên rổ đậu phụng nấu, mẹ đã kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời của cha và mẹ. Tôi nghe tiếng mẹ tôi như còn thì thầm bên tai... *** Thịnh là trưởng nam của ông bà Chung, một gia đình giàu có ở xã Duy An, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. 
Ông bà Chung rất ưng ý cô Tuyết, con của ông bà Thơ xóm trước, nên rất muốn chọn Tuyết làm con dâu. Hằng ngày, Tuyết ra chợ phụ giúp mẹ trông coi sạp hàng tạp hóa, cô ít nói, nhưng vui vẻ - trông hiền lành, nết na được cô bác khu chợ quý mến. Rồi một ngày, ông bà Chung dạm hỏi Tuyết cho Thịnh và đám cưới được tổ chức trong sự mừng vui của cả làng; bởi Thịnh học giỏi, nhưng không ỷ lại sự giàu sang, mà có lòng thương tưởng đến mọi người . Hơn một năm sau, Thọ - cậu con trai của Thịnh ra đời trong tình yêu thương của cha mẹ, họ hàng. Thọ ra đời đúng vào thời gian cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, lan rộng, đang đi vào giai đoạn quyết liệt nhất. Học sinh ở các trường, từ lớp Bảy đến lớp Chín (1945 - 1951) đều phải tham gia tuyển chọn để sung vào bộ đội. Hạnh phúc chưa được bao lâu thì Thịnh cùng những thanh niên trong làng, theo đoàn quân nam tiến. Tuyết thay anh chăm sóc cha mẹ, một mực yêu thương, chia sẻ; nhưng cô không thể thay đổi được những lời đay nghiến, quở trách xa gần của mẹ chồng và cô em gái lớn tuổi, khó tính. Tuyết vẫn luôn tự khuyên mình, hãy nên gắng sức làm vừa lòng họ, và cô nghĩ rằng đó là những người thân yêu của anh. Cô yêu quý anh, thương con - nên không thể xa lánh, ghét bỏ họ được. 
Những lời bóng gió nhỏ nhen của cô em gái ngày càng nhiều, càng gay gắt, làm cô không vơi được nỗi buồn và lo lắng. Tuyết không hiểu sao mẹ và em gái lại đối xử tệ bạc với cô như vậy. Tình yêu thương của cô chỉ được đáp lại bằng sự ghét bỏ, xa lánh! Ngày rời xa gia đình về làm dâu, sống với Thịnh, cha cô đã dặn: “Con nên nhớ, “ái nhân nhân ái chi” - hễ thương người, thì người thương lại thôi !” - nhưng cuộc sống thực tế sao lại vậy? Cái cảnh mẹ chồng nàng dâu và nhất là những cô em chồng lớn tuổi Tuyết đã nghe nói nhiều, nhưng cô không nghĩ cô em chồng lại quá quắt như vậy. Tuyết làm gì họ cũng không vừa ý, và Tuyết như chiếc bóng lẻ loi trong căn nhà thênh thang ấy. Tuyết cô đơn, buồn tủi, nhớ anh và trong lòng cô luôn mơ về một chuyến vào nam để lập nghiệp và cũng là để tìm anh. Rồi ngày ấy đã đến, như một số phận. Bà Chung nghe lời con gái, khéo léo gọi Tuyết đến ngồi bên, nói sẽ gởi mẹ con Tuyết về nhà mẹ đẻ, vì gia đình bà ngày càng khó khăn. Tuyết cảm thấy uất nghẹn, đớn đau, khi nghe mẹ chồng đòi gởi trả cô về nhà cha mẹ. Cô cũng cảm thấy bên nỗi đớn đau, còn có sự tủi nhục mà cô không đáng phải nhận.
 Tuyết quyết định ôm con lên xe vào nam; như một sự chạy trốn xấu hổ, mà chẳng biết mình phải dừng lại nơi đâu? Cô không về nhà cha mẹ, cô không thể mang nỗi đau khổ, tủi nhục về nhà để cha mẹ phải ngày đêm phiền muộn vì mình! Qua đèo Cù Mông, Tuyết dừng chân ở đất Phú Yên. Cô bơ vơ giữa xứ người. Sau một tháng mẹ con nấn ná tạm bợ nơi hiên chợ, sân chùa; Tuyết đã gặp được bà Hoài, như một duyên lành mầu nhiệm đưa đẩy. Tuyết được bà Hoài nhận làm con nuôi khi tình cờ gặp nhau trong một quán cơm ở bến xe ngoài thị xã. Như có một sự dẫn dắt, sắp đặt - họ đã đồng cảm và cần nhau khi hiểu rõ hoàn cảnh của nhau. Tuyết theo bà Hoài về nhà. Bà Hoài là một phụ nữ không con, chồng chết, sống một mình ở vùng Thạch Chẩm, xã Hòa Xuân. Gặp được mẹ con Tuyết, bà Hoài rất vui, vì từ đây bà không còn cô độc nữa, bà cũng có con, có cháu vui cửa, vui nhà. Hằng ngày Tuyết cùng mẹ nuôi tráng bánh gánh ra chợ Hòa Xuân bán, và còn phụ giúp mẹ nuôi chăm sóc ba sào ruộng để có hạt ăn. Tuyết dò hỏi tin tức của chồng nhưng không ai biết gì về đơn vị của anh, cô lặng lẽ làm việc, và luôn âm thầm nuôi hy vọng đến một ngày nào đó. Khoảng đầu Xuân năm 1952, như thường lệ, một buổi sáng gánh bánh ra chợ, Tuyết nhìn thấy một toán bộ đội giăng dây đón bộ hành qua cầu Bàn Thạch để kiểm tra. Có vài người đàn bà gánh gồng, bưng xách im lặng vội quay lại đi lối khác. 
Tuyết không hiểu việc gì xảy ra, thì người đàn ông vừa bước tới, nói cho cô biết rằng, họ kiểm tra “mù chữ” để chống giặc dốt. Ai cũng phải đi học lớp “bình dân học vụ” để biết đọc, biết viết. Họ viết chữ trên tấm bảng, ai đọc được thì cho qua, ai không đọc được họ ghi tên, nơi ở, bắt buộc phải quay lại, về nhà học. Ở thôn làng, đều có mở những lớp “Bình Dân học vụ” ban đêm, để dạy cho tất cả những người không biết chữ, không phân biệt tuổi tác. Tuyết gánh hai giỏ bánh lên cầu, và thật bất ngờ, khi người bộ đội đón kiểm tra cô lại là Thịnh. Tuyết vô cùng vui mừng khi gặp lại anh - người chồng yêu quí đã xa cách bấy lâu mà cô nhớ thương, hy vọng. Thịnh cũng sững sờ khi nhìn ra Tuyết trong dáng hao gầy, nghèo khó. Anh cầm lấy bàn tay Tuyết mà cứ ngỡ là trong một giấc mơ. Tuyết đang đứng trước mặt anh, đôi mắt dịu hiền đăm đăm nhìn anh, mà không nói được câu nào. Có lẽ, Tuyết cũng nghĩ như anh - mình đang sống trong một giấc mơ chăng? Cuộc gặp gỡ bất ngờ như một phép mầu, trước sự xúc động của bao người; nhất là những đồng đội của anh. Sau phút ngỡ ngàng, họ ôm choàng lấy nhau mà nước mắt cứ chảy dài… Tuyết vẫn về ở cùng bà Hoài, cũng hằng ngày tráng bánh mang ra chợ bán; nhưng cô đã biết được tin tức anh, liên lạc được với anh, thỉnh thoảng được gặp nhau ở khu trại của đơn vị anh đóng dưới chân đèo Cả. 
Và họ cùng nhau chờ ngày ngưng tiếng súng, ngày hòa bình trở lại . Sau bảy mươi lăm ngày đàm phán, Hiệp định Genève về chiến tranh Việt Nam đã được ký kết, hòa bình được lập lại. Sau ngày 20 tháng 7 năm 1954 tin “đình chiến” đã được loan báo rộng rãi, đem lại niềm vui to lớn cho toàn dân Việt, sau 9 năm gian khổ. Thịnh không theo đơn vị tập kết ra Bắc, xin được ở lại, đưa mẹ con Tuyết cùng bà Hoài về lập nghiệp tại Hòa Mỹ. Anh đã chọn nơi này làm quê hương thứ hai. Anh cũng như Tuyết, chăm sóc bà Hoài như mẹ ruột, rất mực hiếu thảo. Bà không sinh ra Tuyết, nhưng nuôi dưỡng, đùm bọc mẹ con cô lúc khốn khó, bơ vơ. Cuộc sống hai vợ chồng anh êm đềm bên đồng ruộng, bên vườn rau, ao cá mà anh hằng mơ ước. Ước mơ đơn sơ, nhỏ nhoi là vậy, mà anh và Tuyết đã phải trải qua bao sóng gió, gian truân mới có thể thực hiện được. Tuyết mở một cửa hàng tạp hóa nho nhỏ ngay nhà để bán cho bà con trong làng, còn Thịnh ngày ngày ra đồng chăm lo cho mấy sào ruộng. Cuộc sống khấm khá dần, và những cô con gái của họ lần lượt ra đời như những đóa hoa biết nói: Cúc, Hồng, Mai, Liễu. Thịnh muốn đặt tên cho con là những loài hoa, để mong cho đời con, có thêm ý nghĩa, vui tươi, không như đời của cha mẹ. Bông cúc vàng khoe sắc trước thềm xuân, đóa hồng đỏ thắm xinh tươi chưng trên bàn mỗi ngày, mai vàng rực rỡ báo hiệu xuân về, và cành liễu thắm bâng khuâng bên bờ hồ thơ mộng... Hòa Mỹ là một xã nằm về phía tây nam thuộc huyện Tuy Hòa - thuở ấy, là một vùng quê có nhiều rừng núi. 
Nơi đây, vào những năm của thập niên sáu mươi sau ngày hòa bình, thường xuyên có tiếng súng nổ vì sự đụng độ của hai bên. Nhà nào cũng đào sẵn một hầm trú cá nhân, hay cho cả gia đình. Mỗi khi có tiếng máy bay oanh tạc, súng nổ là cả nhà vội chui vào hầm tránh đạn. Có khi cả làng phải ào chạy ra giữa đồng trong buổi trưa nắng gắt, vì tiếng súng và máy bay thả bom ầm ì gầm rú ngay trong làng. Khi tiếng súng im dần và máy bay cũng vắng tiếng, cả làng mới hoàn hồn dắt díu nhau trở về. Người dân những vùng “xôi đậu” này đã dần quen với những cảnh như thế, vì cuộc sống gắn liền với thửa ruộng mảnh vườn. Ai cũng nghĩ, tiếng súng, tiếng bom không có gì lạ đối với họ, có thể trốn tránh; nhưng chỉ lo sợ đạn lạc thì không chừa ai bao giờ. Và, vào một buổi sáng mùa thu, Thịnh đã nằm xuống khi một viên đạn vô tình oan trái đã bay lạc vào giữa ngực anh. Anh chỉ kịp nói với vợ bằng tiếng đứt quãng, thì thào “Em đưa các con lánh đạn bom, xuôi về dưới huyện…” rồi trút hơi thở cuối cùng trong tiếng kêu gào, than khóc của vợ con. Thịnh đã nằm lại đây khi cả nhà phải chạy về phố huyện. Sau cái chết tức tưởi nhanh chóng của Thịnh, tiếng nổ ngày càng nhiều, cảnh chết chóc tang thương diễn ra thường xuyên trong làng, ngoài bờ ruộng, kiềm giữ mọi người nằm mãi trong hầm trú ẩn. Sau cùng, họ đành cắn răng dắt nhau chạy từng đoàn xuôi về huyện. Tuyết đưa mẹ Hoài và các con chạy theo đoàn người. Ai cũng mệt mỏi vì lo sợ, chân tay rã rời, nhưng vẫn cố dìu dắt nhau mà bước. Đến Phước Bình thì trời đã tối, mấy mẹ con Tuyết xin ngủ nhờ ở nhà một người ven đường. Ông bà chủ nhà thật tốt bụng, nấu cơm cho mấy mẹ con cô ăn, còn giúp cô tìm mua một miếng đất của người quen để làm nhà tạm ở. Thế rồi mấy mẹ con Tuyết cũng dựng được ngôi nhà nhỏ, lợp tole, bên cạnh chùa Ân Quang. Tiếng chuông chùa công phu sáng tối đã đem lại cho tâm hồn cô những giờ phút an tĩnh, vơi bớt ưu phiền, tin yêu cuộc sống hơn. Và cô đã ngày đêm chăm chút nuôi dạy các con với niềm ước mơ như Thịnh đã nói, rằng các con của mình sẽ học hành đến nơi đến chốn. Nhà gần chùa, nên các con của cô luôn về chùa lễ Phật, nghe quý thầy cô thuyết giảng, nên đứa nào cũng chăm ngoan, biết thương người và hiếu thuận. Ngoài giờ đến trường, các con của cô luôn phụ giúp mẹ mọi việc trong nhà - nhất là khi cô cần đến. Có lẽ chúng cũng đã nhận ra sự bất hạnh của mẹ, và nỗi khó khổ của gia đình mình? Tuyết mua củi của những người đi núi hái về, chẻ ra bó từng bó nhỏ rồi gánh ra chợ Tuy Hòa bán. Hai người con lớn của cô phụ mẹ gánh củi, trông nặng nhọc vất vả đấy, nhưng chúng vẫn luôn nở nụ cười chia sẻ với mẹ. Đến mùa gặt, Tuyết lại ra đồng cắt lúa mướn; người ta khúm công mỗi ngày cũng hơn giạ lúa. Tuyết siêng năng, ai mướn gì cô cũng làm, để có thêm thu nhập, mua sách vở và học phí cho con. Rồi Tuyết xoay sở mở tiệm tạp hóa lại tại nhà như trước, để đỡ vất vả, có thời gian ở nhà chăm sóc con hơn. Hai chị em Mai và Liễu muốn giúp đỡ mẹ nhưng loay hoay mãi không biết làm gì. Hai đứa rủ nhau đi mót lúa, bẻ măng; Tuyết biết được - rầy la con, vì sợ chúng lơ là việc học. Sau năm 1975, Tuyết đưa các con trở về Hòa Mỹ - nơi Thịnh đã nằm xuống, gởi nắm xương mình và là quê hương thứ hai mà anh đã chọn để phần nào được gần gũi, sưởi ấm linh hồn anh. 
 Tuyết dựng lại căn nhà ngói trên nền cũ và mở lại tiệm tạp hóa như khi anh còn sống. Hằng ngày cô như thấy được hình bóng anh, vẫn cái dáng gầy gầy, cao cao đi ra đi vào; và giọng nói ấm áp vô hình như vọng về từ cõi nào xa xăm, đã làm cô cảm thấy an tâm, vui sống. Hình ảnh anh luôn chập chờn trong cô - là niềm tin, động lực cho cô vững bước. Tình yêu đã vực Tuyết dậy từ bao nỗi truân chuyên, bất hạnh. Hằng năm, cứ vào khoảng 17, 18 tháng Chạp Tuyết đều về thăm quê nội, về mái nhà xưa ở xã Duy An, huyện Duy Xuyên như một niềm hạnh phúc không thể thiếu. 
Năm này Tuyết dắt Mai đi theo, sang năm dắt Liễu, và năm sau nữa dắt Hồng hoặc Cúc hoặc Thọ. Tuyết thường kể cho các con nghe chuyện làng quê xưa ấy, về nắng gió, bão bùng, thiên tai, lũ lụt, về những kỷ niệm êm đềm tuổi thơ cũng như những ngày anh và cô gặp nhau; để các con của cô luôn nhớ, luôn hướng về quê cha “…Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người” (*) . Các con của Tuyết đã dần dần trưởng thành, ai cũng được đi học đến nơi đến chốn. Mai, Liễu, Hồng là giáo viên dạy trường gần nhà; Cúc là cán sự điều dưỡng làm ở bệnh viện huyện; Thọ là kỹ sư nông lâm, công tác ở sở Tài Nguyên và Môi Trường. Các con của Tuyết đều đã lập gia đình, ai cũng có cuộc sống hạnh phúc. Hằng năm, các con cô đều tham gia cùng nhau chuyến trở về thăm quê, mà chúng gọi văn vẻ là “Chuyến Về Nguồn”. Một sáng mùa thu năm 1985 - như anh, Tuyết đã ngủ một giấc dài và không bao giờ trở dậy nữa, sau ngày giỗ của anh. Có lẽ anh đã đón Tuyết khi biết cô đã hoàn thành trách nhiệm với các con. Có lẽ anh và Tuyết đang nắm tay nhau ở một cõi vô hình xa xăm nào. 

*** 

 Xe đã dừng lại trước ngôi nhà ngói đỏ ba gian của ông bà nội tôi, mọi người lần lượt xuống xe cười nói vui vẻ. Tiếng chị Hồng làm tôi giật mình: -Sao mà đờ đẫn thế Liễu? Tới nơi rồi, sao không xuống? Tôi như vừa trải qua một cơn mê dài, mỉm cười - lật đật xuống xe: -Dạ! Em xuống liền. Các cháu - con người em (con cô Ba của tôi) chạy ra chào đón, chúng vui vẻ phụ mang mấy thùng đồ trong xe vào nhà. Lòng tôi bâng khuâng khi ngắm khoảng sân rộng trước nhà, nơi đây ngày xưa cha tôi đã từng chạy nhảy, vui đùa; nơi đây ghi dấu bao kỷ niệm một thời của cha mẹ tôi. Năm nào tôi cũng về đây, mỗi lần về, tôi đều nao lòng với cảnh cũ, người xưa qua lời kể của mẹ. Một cảm giác bâng khuâng không tả được, chỉ biết rằng cái khoảng trời ngày ấy, cả không gian, thời gian như đọng lại nơi đây, làm tôi nuối tiếc, buồn bâng quơ. Chúng tôi ra thăm mộ ông bà nội, ngoại; thắp nén hương, cầu nguyện. Chúng tôi cùng dắt nhau đi thăm từng anh chị em họ hàng nội ngoại trong làng. Sự trở về của mấy anh chị em tôi, như sưởi ấm tình thân của họ hàng nội ngoại, như chất keo càng gắn kết chúng tôi lại với nhau. Tôi thầm cảm ơn mẹ tôi, người đã hy sinh cả cuộc đời vì chúng tôi, đã hướng cho chúng tôi biết nhớ về nguồn cội, để được hạnh phúc, để có niềm vui, niềm an ủi lớn lao cho đời mình. Sau một ngày thăm viếng bà con, họ hàng; anh chị tôi đã mỏi mệt, ai cũng muốn nghỉ ngơi, ngủ bù vì đường xa . Riêng tôi, dù cố gắng nhắm mắt nhưng không tài nào ngủ được. Tôi nằm đó, trăn qua, trở lại với bao hình ảnh quay cuồng trong cái đầu nhỏ bé. Tôi trở dậy, bước ra sân. Trăng đã lên cao, ánh sáng dịu dàng, óng ả tỏa xuống khắp sân vườn một vùng sáng bàng bạc, mênh mông; và tôi như thấy cha mẹ tôi từ trên cao đang nhìn xuống, mỉm cười.
T.N
 11/2017 
 (*) thơ Đỗ Trung Quân 
 ----- 
NV Tiểu Nguyệt tên thật: Văn thị Ánh Nguyệt - Sinh năm 1958. Tại Phú Hiệp - Đông Hòa - Phú Yên. Quê quán làng Xuyên Đông, TT Nam Phước, Duy Xuyên, Quảng Nam. TÁC PHẨM ĐÃ XB: "KHÚC HÁT YÊU THƯƠNG" (Truyện Ngắn & Tùy Bút) NXB HỒNG ĐỨC